SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC CHO MÔN TNXH Ở TIỂU HỌC

 

BÁO CÁO SÁNG KIẾN

MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO

NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC CÁC MÔN

TỰ NHIÊN - XÃ HỘI THEO PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC

 

I - THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

1. Tên sáng kiến: Một số biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng dạy học các môn Tự nhiên - Xã hội theo phương pháp dạy học tích cực.

2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục và Đào tạo.

3. Tác giả:

Họ và tên: Đinh Văn Thử Giới tính: Nam

Ngày, tháng, năm sinh: 06/10/1970

Trình độ chuyên môn: Đại học

Chức vụ: Phó hiệu trưởng

Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Đông Minh

Điện thoại: 0977.008.555 Email:

4. Đơn vị áp dụng sáng kiến:

Tên đơn vị: Trường Tiểu học Đông Minh

Địa chỉ: Xã Đông Minh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình

Điện thoại: 0363 824 110

5. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: 01/02/2016 - 15/5/2017

II - BÁO CÁO MÔ TẢ SÁNG KIẾN

1. Tên sáng kiến:

MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO

NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC CÁC MÔN

TỰ NHIÊN - XÃ HỘI THEO PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC

2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục và Đào tạo.

3. Mô tả bản chất của sáng kiến:

3.1. Tình trạng giải pháp đã biết:

Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang tiếp tục phát triển mạnh mẽ, làm nền tảng cho sự phát triển kinh tế tri thức. Tốc độ và trình độ đổi mới ứng dụng tri thức quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia. Khoa học - công nghệ trở thành động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế - xã hội. Và chính sự phát triển của khoa học công nghệ đã làm thay đổi mạnh mẽ nội dung, phương pháp giáo dục trong nhà trường ở nước ta hiện nay.

Trước đòi hỏi của thực tiễn, yêu cầu phải đổi mới giáo dục, trong đó đổi mới PPDH là hết sức cần thiết. Đổi mới giáo dục đòi hỏi nhà trường trước hết phải thay đổi tư duy, sau đó là thay đổi hoạt động giáo dục. Nhà trường không chỉ trang bị cho HS kiến thức đã có của nhân loại mà còn bồi dưỡng, hình thành ở các em tính năng động, óc tư duy sáng tạo, khả năng làm việc theo nhóm và kĩ năng thực hành áp dụng vào thực tiễn. Đây thực sự là những thách thức lớn đối với đội ngũ những người làm công tác giáo dục. Họ không chỉ là người mang kiến thức đến cho HS mà phải là người dạy cho HS cách nghĩ, cách tìm ra kiến thức và vận dụng nó vào cuộc sống. Có như vậy mới đảm bảo cung cấp cho các em hành trang đáp ứng việc tự học suốt đời.

Giáo dục tiểu học có mục tiêu, nhiệm vụ cực kì quan trọng: Xây dựng nền móng cho nhân cách và năng lực của những công dân tương lai. Qua quá trình học tập, cần hình thành cho HS năng lực nhận thức, năng lực tự học, các kĩ năng giải quyết vấn đề, cách hòa nhập, thích ứng với môi trường và cộng đồng xã hội theo định hướng Bốn trụ cột giáo dục trong thế kỷ XXI: “Học để biết - Học để làm - Học để tự khẳng định - Học để cùng chung sống.”

Các nguồn thông tin này càng nhiều và càng dễ tiếp nhận qua thông tin đại chúng. Các môn học TN- XH, Khoa học, Lịch sử và Địa lí lại là các môn học về thiên nhiên, con người và xã hội gần gũi bao quanh HS. Vì vậy, dưới sự hướng dẫn của GV, HS hoàn toàn có khả năng tự phát hiện (khám phá) kiến thức và áp dụng kiến thức đó vào cuộc sống.

Tuy nhiên, trên thực tế giảng dạy, có một số GV vẫn cho rằng, chính họ mới là nguồn duy nhất cung cấp kiến thức cho HS mà không thấy rằng trong thế giới hiện đại, HS có thể thu nhận kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau. Hơn nữa, nhiều GV không coi trọng thiết bị dạy học. Tình trạng dạy “chay”, học “chay” còn khá phổ biến trong các trường tiểu học. Đó là cách dạy thoát li các phương pháp đặc trưng của môn học và đặc điểm nhận thức của HS tiểu học.

Trong thời gian qua, trường Tiểu học Đông Minh đã rất chú trọng đến việc giảng dạy các môn học theo PPDH tích cực và đã thu được những kết qủa rất khả quan. Với tầm quan trọng của việc dạy học các môn về Tự nhiên và Xã hội, với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng dạy học các môn học trên, được sự giúp đỡ nhiệt tình của đồng nghiệp, trong hai năm học qua, tôi đã nghiên cứu và tóm tắt được một vài kinh nghiệm về vấn đề:

“Một số biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng dạy học các môn Tự nhiên và Xã hội theo phương pháp dạy học tích cực” Với mục đích tìm ra biện pháp khắc phục những hiện trạng nêu trên và nâng cao chất lượng dạy học các môn TN - XH trong trường Tiểu học.

3.2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:

3.2.1. Ý nghĩa và nhận thức về dạy học các môn Tự nhiên vã Xã hội theo phương pháp dạy học tích cực.

a. Thế nào là tính tích cực học tập?

Tính tích cực (TTC) là một phẩm chất vốn có của con người, bởi vì để tồn tại và phát triển con người luôn phải chủ động, tích cực cải biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội. Vì vậy, hình thành và phát triển TTC xã hội là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục.

Tính tích cực học tập - về thực chất là TTC nhận thức, đặc trưng ở khát vọng

hiểu biết. Tính tích cực sản sinh nếp tư duy độc lập. Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo. TTC học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như: hăng hái trả lời các câu hỏi của GV, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra; hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ; chủ động vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới; tập trung chú ý vào vấn đề đang học; kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản trước những tình huống khó khăn…

TTC học tập thể hiện qua các cấp độ từ thấp lên cao như:

- Bắt chước: gắng sức làm theo mẫu hành động của thầy, của bạn…

- Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyết khác nhau về một số vấn đề…

- Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu.

b. Phương pháp dạy học tích cực là gì?

PPDH tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học."Tích cực" trong PPDH được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động và cốt lõi của PPDH tích cực là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động.

c. Nhận thức về phương pháp dạy học tích cực.

- Giai đoạn1(các lớp1, 2, 3): Môn TN - XH cũ bao gồm bảy chủ đề (Gia đình, Trường học, Quê hương, Thực vật, Động vật, Cơ thể con người, Bầu trời và Trái đất), theo chương trình mới chỉ còn ba chủ đề: Con người và sức khoẻ; Xã hội; Tự nhiên;

- Giai đoạn 2 (các lớp 4, 5): Môn Khoa học cũ bao gồm các chủ đề: Ánh sáng và nhiệt, Nước, Không khí, Âm thanh, Đất - đá - quặng, Thực vật, Động vật, Đồ vật thường dùng, Chất thường dùng, Năng lượng thường dùng, Sự sinh sản ở thực vật, Sự sinh sản ở động vật, Sự sinh sản và phát triển cơ thể người, Con người và môi trường. Môn khoa học mới chỉ bao gồm 4 chủ đề: Con người và sức khoẻ (lớp 4 và 5); Vật chất và năng lượng (lớp 4 và 5); Thực vật và động vật (lớp 4 và 5); Môi trường và tài nguyên thiên nhiên (lớp 5);

d. Thực trạng của việc dạy học các môn TN - XH ở trường Tiểu học.

- Các môn học TN - XH, Khoa học, Lịch sử và Địa lí là các môn học về môi trường tự nhiên và xã hội, gần gũi bao quanh HS, do đó HS có nhiều vốn sống, vốn hiểu biết để tham gia vào bài học, chúng phải được chủ động nhận thức. Tuy vậy có một số GV vẫn cho rằng, chính họ vẫn là nguồn duy nhất cung cấp kiến thức cho HS mà không thấy rằng trong thế giới hiện đại, HS có thể thu nhận kiến thức từ nhiều nguồn khác. Vì vậy, họ khó có thể hoà nhập vào xu thế đổi mới PPDH.

- Trong thời gian qua, nhiều GV không coi trọng thiết bị dạy học, nhất là các dụng cụ thí nghiệm. Tình trạng dạy chay, học chay còn phổ biến trong các trường tiểu học. Đó là cách dạy học thoát li các phương pháp đặc trưng của môn học và

đặc điểm nhận thức của trẻ em tiểu học.

- Một số GV còn hiểu PPDH tích cực, dạy học hướng vào HS chỉ là sử dụng nhiều phương pháp hỏi - đáp, cho HS đọc trước SGK, học tập theo hình thức nhóm để nhắc lại những điều đã học ở lớp nhằm củng cố kiến thức sẵn có trong SGK. Những GV đó không thấy rằng dạy học theo PPDH tích cực là tăng cường hoạt động học tập của cá nhân; thông qua các hoạt động học tập của cá nhân kích thích được động cơ bên trong của người học, làm cho họ tăng cường tính chủ động, tự tin, phát triển khả năng suy lí, óc phê phán để phát hiện ra kiến thức.

Tóm lại, cách làm chưa đúng của GV đẩy HS vào thế thụ động nhận thức.

Mục tiêu, nội dung giáo dục ảnh hưởng trực tiếp tới PPDH trong nhà trường và ngược lại, PPDH cũng chi phối mục tiêu, nội dung, cách đánh giá học sinh và đổi mới công tác quản lí giáo dục. PPDH không những là chìa khóa vạn năng giúp HS tiếp cận kiến thức mà còn tạo ra khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề trong đời sống. Có thể nói, PPDH tích cực tác động đến mọi nhân tố trong nhà trường, thay đổi tích cực hoạt động của GV, HS; tăng cường mối quan hệ giữa nhà trường với gia đình và cộng đồng. Từ những định hướng trên chúng ta cần phải chú ý đến PPDH tích cực, phát huy tính chủ động, sáng tạo của HS.

3.2.2. Nội dung giải pháp.

MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO

NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC CÁC MÔN

TỰ NHIÊN - XÃ HỘI THEO PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC

1. Biện pháp 1: Bồi dưỡng phương pháp học tập tích cực cho học sinh.

Tính tích cực (TTC) là khái niệm biểu hiện sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đối tượng; là sản phẩm rất quan trọng của con người, được hình thành từ rất nhiều lĩnh vực, nhiều nhân tố, có quan hệ với rất nhiều phẩm chất khác của nhân cách và với môi trường, điều kiện mà chủ thể hoạt động và tồn tại.

TTC nhận thức: Là tính tích cực trong điều kiện, phạm vi của quá trình dạy học, chủ yếu được áp dụng trong quá trình nhận thức của HS. Có thể phân chia sự phát triển TTC nhận thức làm 3 mức độ:

- TTC tái hiện: Đó là mức độ thấp của TTC, chủ yếu dựa vào trí nhớ để tái hiện lại những điều đã nhận thức được. Đây là hình thức biểu hiện tính tích cực sớm nhất, đơn giản và phổ biến nhất. Qua mô phỏng, bắt chước, tái hiện mà các em tích lũy được kiến thức, kinh nghiệm của các thế hệ trước.

- TTC sử dụng: Đây là sự phát triển TTC ở mức độ cao hơn. Qua việc vận dụng các công cụ, các khái niệm, … để giải quyết một nhiệm vụ nào đó các em phải phân tích, suy nghĩ tìm tòi để tự đưa ra những phương án khác nhau, nhờ đó mà nhu cầu, hứng thú nhận thức và óc sáng tạo phát triển.

- TTC sáng tạo: Đây là mức độ phát triển cao nhất của TTC. Nó được đặc trưng bằng sự khẳng định con đường suy nghĩ riêng của mình, vượt ra khỏi khuôn mẫu, máy móc nhằm tạo ra cái mới, cái bất ngờ, có giá trị và hướng đến việc ứng dụng những thủ thuật mới để giải quyết vấn đề, tìm tòi những phương pháp khắc phục khó khăn, đưa những phát minh mới vào cuộc sống. Nó biểu hiện khả năng tự mình tìm kiếm những nhiệm vụ mới, những phương pháp giải quyết mới, khả năng sử dụng những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo trong những tình huống, hoàn cảnh mới. Để bồi dưỡng phương pháp học tập tích cực cho HS, GV cần phải:

- Chuẩn bị về năng lực: GV giữ vai trò rất quan trọng trong việc phát huy TTC cho HS. GV là người khơi nguồn, tạo ra tình huống, tạo sự hứng thú, kích thích sự phấn chấn trong hoạt động nhận thức của HS. Do đó GV phải biết nâng cao năng lực của mình (bao gồm năng lực chuyên môn và năng lực nghiệp vụ sư phạm) để đáp ứng phù hợp với nhu cầu của HS. Ngoài ra người thầy còn phải có khả năng lôi cuốn, thu hút HS làm theo mình. Phải luôn có tư tưởng tôn trọng, lắng nghe tâm tư nguyện vọng của HS, luôn quan tâm đến mối quan hệ thầy - trò. Người thầy dạy HS không chỉ bằng kiến thức, kỹ năng mà còn bằng cả nhân cách của mình. Tình cảm và mối quan hệ thầy trò luôn luôn ảnh hưởng đến chất lượng kết quả học tập.

- Sử dụng các PPDH một cách linh hoạt: Sự đa dạng các PPDH là một yếu tố thuận lợi cho người thầy phát huy mặt mạnh và khắc phục những mặt yếu của mỗi phương pháp vì không có phương pháp nào tối ưu. Mỗi khi thay đổi PPDH là đã thay đổi cách thức hoạt động tư duy của HS, thay đổi sự tác động vào các giác quan giúp cho các em lâu mệt mỏi. Khi đó sự tập trung học tập đạt ở mức cao nhất. Ngoài ra, mỗi HS khác nhau sẽ thích ứng với PPDH khác nhau. Vì vậy mà việc kết hợp khéo léo, linh hoạt giữa các hình thức dạy học khác nhau sẽ tạo không khí lớp sinh động, hứng thú và có nhiều cơ hội hoạt động tích cực hơn góp phần nâng cao hiệu quả dạy học, HS tiếp thu bài tốt hơn sẽ yêu mến môn học.

- Động viên khuyến khích: Trong một lớp học thì luôn có sự chênh lệch về trình độ giữa các HS. Một GV chân chính thì luôn hướng tới cái đích mọi thành viên trong lớp đều hoạt động tốt. Nhưng phải làm thế nào đây khi các HS còn hạn chế thì rất là mặc cảm, e ngại trước những HS tốt hơn mình? Điều này đòi hỏi người thầy phải tuyệt đối lắng nghe, quan tâm và đặt mình vào vị trí của HS khi trả lời. Có thể là ý kiến đó sai nhưng phải tạo điều kiện cho HS tự do ngôn luận và chỉ có thể can thiệp khi thật sự cần thiết; còn đối với các em học tốt hơn thì tạo mọi điều kiện để các em phát triển khả năng tư duy sáng tạo của mình. Chính sự quan tâm, động viên, cởi mở mà làm cho mối quan hệ thầy trò trở nên tốt đẹp, tạo bầu không khí thoải mái, bình đẳng cho lớp học, đây là môi trường phát huy TTC hoạt động nhận thức của HS rất hiệu quả.

- Tăng thời gian hoạt động trong giờ học cho HS: Giảm thuyết trình của GV, tăng đàm thoại giữa thầy và trò, ưu tiên cho HS được thảo luận, tranh luận nhiều. Khi HS tự nghiên cứu SGK tại lớp cần yêu cầu HS trả lời những câu hỏi tổng hợp đòi hỏi phải so sánh, khái quát hóa, suy luận, cần nêu những câu hỏi yêu cầu HS phải đầu tư suy nghĩ thêm chứ không chỉ lấy từ SGK. GV cần biết xác định đúng và nắm vững trọng tâm bài học, giảm bớt thời gian dành cho phần dễ và tương đối đơn giản để có đủ thời gian tập trung vào những phần trọng tâm của bài.

- Tăng cường cho HS đánh giá lẫn nhau để học hỏi kinh nghiệm và bổ sung

hoàn thiện thêm kiến thức cho mình. Đối với GV, từng bước đổi mới công tác kiểm tra đánh giá, coi trọng những biểu hiện sáng tạo của HS, coi trọng những kỹ năng thực hành cũng như kỹ năng giải quyết những vấn đề thực tiễn để kích thích tích cực hoạt động trong tư duy sáng tạo của mình.

Tích cực hóa hoạt động học tập là một tập hợp các hoạt động của thầy giáo và của các nhà giáo dục nói chung, nhằm biến người học từ thụ động thành chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập. Làm cho người đọc từ chỗ lơ là, lười biếng đến chỗ tích cực, say mê học hành là cả một công việc khó khăn, đòi hỏi trí sáng tạo và sự dày công của các nhà giáo dục.

2. Biện pháp 2: Vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học.

Đổi mới PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của HS không có nghĩa là gạt bỏ, loại trừ, thay thế hoàn toàn các PPDH truyền thống, hay phải "nhập nội" một số phương pháp xa lạ vào quá trình dạy học. Vấn đề ở chỗ: GV cần kế thừa, phát triển những mặt tích cực của PPDH hiện có, đồng thời phải học hỏi, vận dụng một số PPDH mới một cách linh hoạt nhằm phát huy TTC, chủ động sáng tạo của HS trong học tập, phù hợp với hoàn cảnh điều kiện dạy và học cụ thể.

2.1. Phương pháp quan sát:

- Phương pháp quan sát được dùng để dạy HS cách sử dụng các giác quan để tri giác trực tiếp, có mục đích các đối tượng trong tự nhiên và xã hội, nhằm tiếp nhận thông tin mà không có sự can thiệp vào quá trình diễn biến của các hiện tượng, sự vật đó.

- HS quan sát chủ yếu là để nhận biết hình dạng, đặc điểm bên ngoài của cơ thể người, của cây xanh, một số động vật, hoặc để nhận biết các hiện tượng đang diễn ra trong môi trường tự nhiên, trong cuộc sống hàng ngày ...

- Cách tiến hành:

Bước 1: Xác định mục đích quan sát

Bước 2: Lựa chọn đối tượng quan sát

Bước 3: Tổ chức và hướng dẫn HS quan sát

Bước 4: Tổ chức cho HS báo cáo kết quả quan sát v đối tượng

- Một số điểm cần lưu ý:

+ Ở tiểu học, mục tiêu quan sát phải đơn giản, phù hợp với trình độ nhận thức của HS.

+ Đối tượng quan sát của HS là tranh ảnh, sơ đồ, mẫu vật, mô hình…; là khung cảnh gia đình, lớp học, cuộc sống ở địa phương; là cây cối, con vật và một số sự vật, hiện tượng diễn ra hằng ngày trong tự nhiên và xã hội.

+ GV có thể tổ chức cho HS quan sát ở trong lớp hay ngoài lớp (sân trường, vườn trường, các địa điểm xung quanh trường…).

2.2. Phương pháp đàm thoại:

- Phương pháp đàm thoại (phương pháp hỏi - đáp) là phương pháp GV đặt ra những câu hỏi để GV và HS đối thoại, nhằm khêu gợi, dẫn dắt HS lĩnh hội nội dung bài học.

+ Đàm thoại tái hiện: GV đặt ra những câu hỏi chỉ yêu cầu HS nhớ lại kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận.

+ Đàm thoại giải thích- minh hoạ: Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đ tài nào đó, GV lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để HS dễ hiểu, dễ nhớ.

+ Đàm thoại tìm tòi: GV dùng hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lí để dẫn dắt HS từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết.

- Tác dụng:

+ Kích thích tính tích cực, hứng thú, độc lập sáng tạo của HS trong học tập; bồi dưỡng cho HS năng lực diễn đạt bằng lời nói và làm cho không khí lớp học sôi nổi.

+ Giúp HS thu nhận kiến thức và đánh giá kết quả học tập của HS.

Để tăng thêm hiệu quả của việc sử dụng phương pháp hỏi đáp, GV cần tổ chức đối thoại theo nhiu chiu : GV→HS ; HS→HS và HS→GV.

- Cách tiến hành:

+ Phương án 1: GV đặt câu hỏi nhỏ, riêng rẽ chỉ định từng HS trả lời (hoặc để HS tự nguyện). Tổ hợp các câu hỏi và đáp án là nguồn tri thức mới.

+ Phương án 2: GV nêu trước lớp một câu hỏi tương đối lớn, kèm theo những gợi ý liên quan đến câu hỏi. HS giúp nhau trả lời từng bộ phận của câu hỏi lớn.

+ Phương án 3: GV nêu ra một câu hỏi chính, kèm theo gợi ý, nhằm tổ chức cho HS thảo luận hoặc đặt những câu hỏi phụ để HS giúp nhau tìm lời giải đáp.

2.3. Phương pháp thực hành:

- Phương pháp thực hành là PPDH do GV tổ chức cho HS trực tiếp thao tác trên đối tượng, nhằm giúp HS hiểu rõ và vận dụng lí thuyết vào thực hành, luyện tập, hình thành kĩ năng.

- Cách tiến hành:

+ Bước1: Giúp HS hiểu vì sao thực hiện kỹ năng đó và một số thông tin quan trọng khác.

+ Bước 2: GV hướng dẫn để HS biết trình tự các bước và cách thực hiện từng thao tác.Cách tốt nhất là HS được xem trình diễn hoặc nghiên cứu tình huống. Trong trường hợp làm mẫu thì GV nên làm mẫu với tốc độ vừa phải để HS theo dõi và tiếp thu được. GV vừa làm mẫu vừa kết hợp với giải thích cách thao tác.

+ Bước 3: Tổ chức cho HS thực hành: HS có thể thực hành cá nhân hoặc theo nhóm, tuỳ số đồ dùng chuẩn bị được. Tuy nhiên, GV cần tạo điu kiện để HS được thực hành cá nhân. GV chú ý quan sát hoạt động thực hành của HS để nhanh chóng phát hiện những khó khăn, sai sót và những em cần được chỉ dẫn thêm, hoặc giúp đỡ.

+ Bước 4: Tổ chức cho HS báo cáo kết quả thực hành trước lớp. HS cần được tự báo cáo kết quả thực hành, GV kiểm tra, hiệu chỉnh.

2.4. Phương pháp thảo luận:

- Là cách tổ chức đối thoại giữa HS và GV, giữa HS và HS, nhằm huy động trí tuệ của tập thể để giải quyết một vấn đ do môn học đặt ra, hoặc một vấn đ do thực tế cuộc sống đòi hỏi, để tìm hiểu, đưa ra những giải pháp, những kiến nghị, những quan niệm mới…

Trong quá trình dạy học, GV thường sử dụng cả 2 hình thức thảo luận sau:

+ Thảo luận theo nhóm …

+ Thảo luận cả lớp …

- Tác dụng:

+ HS được tập dượt tham gia tìm hiểu, hoặc giải quyết một vấn đ do tình huống học tập hoặc do thực tế đặt ra.

+ HS được học hỏi bạn, biến kiến thức của bạn thành kiến thức của mình. Thông qua thảo luận các em nâng cao năng lực cá nhân (nói, giao tiếp, tranh luận…)

+ Sử dụng trí tuệ tập thể theo phương châm : hợp tác để đạt được kết quả cao.

+ Quá trình thảo luận dưới sự hướng dẫn của GV còn tạo ra mối quan hệ hai chiu giữa GV và HS, giữa HS và HS giúp GV nắm được hiệu quả giáo dục v mặt nhận thức, thái độ, quan điểm hành vi của HS.

- Cách tiến hành:

+ Bước 1: Chuẩn bị nội dung thảo luận.

+ Bước 2: Tiến hành thảo luận.

+ Bước 3: Tổng kết và đánh giá thảo luận.

- Một số điểm cần chú ý:

+ GV phải xác định rõ mục đích thảo luận để từ đó xác định nội dung, hình thức và thời điểm thảo luận cho phù hợp.

+ Nội dung thảo luận thường gần gũi với cuộc sống của HS và cũng có thể có nhiu cách giải quyết khác nhau.

+ Không nên đưa ra quá nhiu vấn đ hoặc quá nhiu câu hỏi trong một hoạt động. Câu hỏi phải dễ hiểu, phù hợp với trình độ nhận thức của HS tiểu học.

+ Khi thảo luận, không nên gò ép, áp đặt HS nói theo ý của GV. Cần động viên các em mạnh dạn trình bày ý kiến, quan điểm riêng. Ý kiến của các em dù

chưa đúng vẫn nên trân trọng và phân tích góp ý để các em đi tới nhận thức đúng.

+ Thời gian thảo luận không nên kéo dài.

2.5. Phương pháp trò chơi học tập:

- Trò chơi học tập là trò chơi có nội dung gắn với hoạt động học tập của HS.

- Tác dụng:

+ Làm thay đổi hình thức học tập.

+ Làm cho không khí học tập trong lớp học được thoải mái và dễ chịu hơn.

+ Làm cho quá trình học tập trở thành một hình thức vui chơi hấp dẫn.

+ HS thấy vui, nhanh nhẹn và cởi mở hơn; tiếp thu tự giác và tích cực hơn.

+ HS được củng cố và hệ thống hoá kiến thức.

- Các yêu cầu:

+ Các trò chơi phải thú vị để HS thích được tham gia.

+ Phải thu hút được đa số (hoặc tất cả) HS tham gia.

+ Các trò chơi phải đơn giản, dễ thực hiện;

+ Các trò chơi không được tốn nhiu thời gian, sức lực để không ảnh hưởng đến các hoạt động tiếp theo của tiết học hoặc ảnh hưởng đến các tiết học khác;

+ Quan trọng hơn, trò chơi phải có mục đích học tập, không đơn thuần là trò chơi giải trí.

- Cách xây dựng một trò chơi học tập:

GV có thể lựa chọn bất kì một hoạt động nào để tổ chức thành trò chơi bằng cách vận dụng các nhân tố cơ bản của trò chơi:

+ Phải có tính thi đua giữa các cá nhân và các nhóm;

+ Có quy định v sự “thưởng”, “ phạt”

+ Có cách chơi rõ ràng (bao gồm cả thời gian, cách tính điểm.)

- Cách tổ chức một trò chơi:

+ Giới thiệu, hướng dẫn cách chơi, thời gian chơi và phổ biến luật chơi.

+ Cho HS chơi thử (nếu cần); Chơi thật.

+ Nhận xét kết quả của trò chơi (có thể “thưởng” người thắng hoặc “phạt” người thua), nhận xét thái độ của người tham dự và rút kinh nghiệm.

+ Kết thúc: GV hỏi xem HS đã học được gì qua trò chơi hoặc GV tổng kết lại những gì cần học qua trò chơi này.

2.6. Phương pháp động não:

- Là một phương pháp dùng để giải quyết nhiu vấn đ khác nhau, giúp người học trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiu ý tưởng, nhiu giả định vmột vấn đ nào đó.

- Tác dụng:

+ Trả lời nhanh, khắc phục sự rụt rè khi trình bày ý kiến.

+ Tránh trả lời hấp tấp với thời gian hạn định.

+ Tự do và chân thực trong việc tham gia vào các hoạt động mà không quan tâm đến những hạn chế của cá nhân.

- Cách sử dụng:

+ So với một số phương pháp khác (quan sát, hỏi đáp, thảo luận…), phương pháp động não ít được sử dụng hơn trong dạy học TN-XH nói chung. Thống kê trong SGV cho thấy: các chủ đ sử dụng nhiu phương pháp này là chủ đ “Con người và sức khoẻ”; Xã hội”.

Ví dụ 1: Khi dạy bài 8, “Ăn, uống hàng ngày” - TN-XH lớp 1, GV đưa ra câu hỏi: Hãy kể tên những thức ăn, đồ uống chúng ta thường ăn uống hàng ngày.

Ví dụ 2: Khi dạy bài 8: “Ăn, uống sạch sẽ” - TN-XH lớp 2, GV đưa ra câu hỏi: Để ăn uống sạch sẽ, chúng ta cần phải làm gì?.

+ Trong dạy học TN-XH, Khoa học, Lịch sử và Địa lí, phương pháp động não được vận dụng khi giúp HS phát hiện một vấn đ ít nhiu đã quen thuộc trong thực tế của HS, các em có thể suy nghĩ không quá căng thẳng, trả lời nhanh và tập trung vào vấn đ được nêu.

+Mỗi vấn đ được nêu trong phương pháp động não thường giúp HS đưa ra nhiu đáp án mà thông thường mỗi HS chưa thể trình bày đầy đủ chính xác đáp án.

- Một số điểm cần chú ý:

+ Các vấn đ nêu ra phải giúp HS trả lời thật ngắn gọn, tốt nhất bằng một vài từ, hay cụm từ hoặc câu đơn thật ngắn cho mỗi ý đúng.

+ GV cần khen ngợi tất cả mọi ý kiến, hạn chế phê phán, nhận định đúng sai.

+ Tổng hợp các ý kiến cần hướng vào các ý kiến có sự tham gia của nhiu HS.

+ Khi sử dụng phương pháp động não, không khí lớp học thường sôi nổi, ồn ào. GV cần đưa ra những hướng dẫn để HS có thể tìm ra các ý tưởng, giả định sát với chuẩn kiến thức và cả những quy định cần thiết v tổ chức lớp học.

2.7. Phương pháp "Bàn tay nặn bột”:

- Phương pháp "Bàn tay nặn bột, là PPDH khoa học dựa trên cơ sở của sự tìm tòi - nghiên cứu, áp dụng cho việc dạy học các môn khoa học tự nhiên.

Theo phương pháp BTNB, dưới sự giúp đỡ của GV, chính HS tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra để từ đó hình thành kiến thức cho mình.

Mục tiêu của “BTNB” là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá, yêu và say mê khoa học của HS. Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, “BTNB” còn chú ý nhiều đến việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho HS.

- Tiến trình dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”:

“BTNB” đề xuất một tiến trình ưu tiên xây dựng tri thức bằng khai thác,

thực nghiệm và thảo luận. Đó là sự thực hành khoa học bằng hành động, hỏi đáp, tìm tòi, thực nghiệm, xây dựng tập thể chứ không phải bằng phát biểu lại các kiến thức có sẵn xuất phát từ sự ghi nhớ thuần tuý. Có thể tiến hành dạy học theo phương pháp “BTNB” qua các bước:

+ Bước 1: Đưa tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề.

+ Bước 2: Làm bộc lộ (hình thành) những hiểu biết ban đầu của HS.

+ Bước 3: Đề xuất các câu hỏi hay giả thiết, phương án tìm tòi - nghiên cứu.

+ Bước 4: Thực hiện phương án tìm tòi - nghiên cứu.

+ Bước 5: Kết luận và hợp thức hóa kiến thức.

- Một số lưu ý khi áp dụng :

+ Liệt kê các bài học có thể áp dụng phương pháp BTNB.

+ GV chuẩn bị trước các thí nghiệm dự kiến để có kết quả như mong muốn.

+ Vận dụng tối đa những nguyên vật liệu sẵn có, dễ kiếm.

+ Sử dụng CNTT cho bài dạy áp dụng PPBTNB đúng lúc, đúng chỗ, hợp lí.

+ Với một số thí nghiệm đơn giản, GV có thể giao việc cho HS bằng những phiếu giao việc, tự HS chuẩn bị các vật liệu cho nhóm của mình.

Đây là phương pháp phát triển tính tích cực nhận thức và phát triển tư duy sáng tạo cho HS. Tuy nhiên, phương pháp BTNB cũng không phải là phương pháp vạn năng. Cùng với việc thực hiện chương trình và SGK mới, vấn đ đổi mới PPDH đã được khẳng định. Việc đổi mới PPDH cần thực hiện một cách đồng bộ trên cơ sở đổi mới: mục tiêu, nội dung, phương tiện, tổ chức, đánh giá. PPDH cần đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực nhận thức của HS.

3. Biện pháp 3: Đa dạng hóa các hình thức dạy học.

3.1. Hình thức dạy học trong lớp:

a) Dạy học đồng loạt cả lớp:

- Ưu điểm: Phù hợp với hình thức tổ chức dạy học theo trường, lớp ở trường tiểu học hiện nay. GV dễ điu hành và quản lí lớp, dễ sử dụng các phương tiện dạy học hiện có để thực hiện bài dạy theo chương trình,ít lệ thuộc vào môi trường xung quanh, trong một thời gian ngắn có thể thông báo được nhiu kiến thức.

- Nhược điểm: GV làm việc nhiu, HS ít làm việc và nhận thức thụ động. HS phải quan sát, tiếp thu phần lớn kiến thức gián tiếp qua tranh, ảnh và ngôn ngữ, ít có điu kiện để thực hành, vận dụng kiến thức và ít có điu kiện làm việc với các phương tiện học tập cá nhân để suy nghĩ, phát huy tính tích cực của bản thân trong

học tập.

- Những điểm cần chú ý: Phối hợp hình thức dạy học đồng loạt cả lớp với

các hình thức dạy học theo nhóm và cá nhân. Sử dụng hình thức này nên hướng vào các hoạt động định hướng nhiệm vụ học tập, HS trình bày báo cáo, GV bổ

sung, kết luận vấn đ sau mỗi phần hoặc cuối bài học.

b) Dạy học theo nhóm nhỏ:

- Ưu điểm:

+ HS dễ học hỏi lẫn nhau, từng em có thể bộc lộ ý kiến của mình và nghe ý kiến của các bạn khác cùng hoàn thành nhiệm vụ hạn chế sự tiếp nhận thụ động từ GV. Hiệu quả dạy học sẽ cao.

+ Bằng cách nói ra những điu đang nghĩ mỗi HS có thể nhận rõ trình độ nhận thức của mình với bài học và thấy mình cần học hỏi thêm những gì.

+ HS biết cách trình bày ý kiến của mình, biết nghe và lựa chọn để tiếp nhận ý kiến người khác và tập dượt chỉ huy người khác.

+ GV có điu kiện quan sát theo dõi giúp đỡ cho các hoạt động của HS.

- Nhược điểm:

+ Áp dụng phương pháp này bị hạn chế bởi không gian chật hẹp của lớp học dễ gây ồn, ảnh hưởng tới các lớp học khác.

+ Do thời gian hạn định của tiết học, nếu tổ chức không hợp lý sẽ làm mất thời gian, bài dạy khó hoàn thành.

- Những điểm cần lưu ý:

+ Cần đa dạng các hình thức học tập, không nên tổ chức hoạt động nhóm trong cả tiết học.

+ Rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong tổ chức lao động.

+ Cần lựa chọn nội dung, chủ đ phù hợp cho hoạt động học tập theo nhóm, tránh hình thức (chọn nội dung cho HS làm việc theo nhóm quá dễ hoặc mất nhiu thời gian).

+ Các nhóm chỉ trình bày ý kiến trước lớp, khi đã trao đổi thống nhất giữa các thành viên trong nhóm (các thành viên trong nhóm chỉ có thể bổ sung chứ không thể phản đối ý kiến báo cáo của đại diện nhóm mình).

+ GV cần linh hoạt trong việc chia nhóm theo từng tháng (có thể theo số lượng, theo trình độ nhận thức, theo vị trí) sao cho vừa thuận tiện trong việc theo dõi tổ chức học tập theo nhóm, vừa giúp các em ở các trình độ học tập khác nhau có thể trao đổi với nhau.

- Một số hoạt động có thể tổ chức dạy học theo nhóm:

+ Thảo luận một chủ đ.

+ Ôn tập và tổng kết kiến thức.

+ Tìm hiểu, điu tra một đ tài.

+ Tiến hành thí nghiệm.

+ Tiến hành trò chơi.

c) Dạy học cá nhân:

- Ưu điểm: GV có thể giúp đỡ những em kém, bồi dưỡng cho HS khá giỏi. Tạo ra mối quan hệ thân mật, hợp tác giữa GV và từng HS trên cơ sở tôn trọng nhân cách các em trong học tập.Thông qua giao việc cụ thể cho từng HS, buộc HS phải tích cực hoạt động, tự mình phát hiện ra kiến thức.

- Nhược điểm: Trong một tiết học, khó có thể sử dụng nhiu thời gian cho hình thức dạy học này, vì ảnh hưởng đến việc hoàn thành nội dung bài học.

- Một số hoạt động có thể dạy học cá nhân trong môn Tự nhiên và Xã hội:

+ HS làm việc với phiếu học tập, thực hành, kiểm tra hoặc phiếu giao việc.

+ Làm các bài tập, bài thực hành, tự làm thí nghiệm đơn giản, làm đồ chơi.

+ Các hoạt động học tập độc lập (sưu tầm tranh, ảnh, mẫu vật, làm đồ dùng

học tập, điu tra…)

+ GV giúp đỡ cá nhân trong học tập nội khoá và ngoại khoá.

3.2. Hình thức dạy học ngoài lớp (vườn trường, sân trường...)

Môn Tự nhiên và Xã hội có nhiu nội dung gắn lin với môi trường tự nhiên, xã hội của địa phương, nơi các em HS đang sinh sống.

- Ưu điểm:

+ Thích hợp cho việc sử dụng các PPDH (quan sát thiên nhiên, các trò chơi…), dễ gây hứng thú và học tập tích cực cho HS. Giúp HS tri giác trực tiếp đối tượng và ghi nhớ tốt, không phải tri giác gián tiếp qua các phương tiện dạy học.

+ HS có điu kiện gần gũi, hiểu biết thêm v thiên nhiên, từ đó có ý thức bảo vệ thiên nhiên môi trường sống xung quanh.

+ Những hoạt động ngoài lớp còn là cơ hội để các em bộc lộ cá tính, năng khiếu, sở trường, đồng thời có tác dụng hình thành thói quen hợp tác, tương trợ học hỏi lẫn nhau.

- Nhược điểm: Khó quản lí HS, môi trường có thể tác động tới kết quả học tập và sức khoẻ của GV và HS, tốn thời gian đi lại.

- Những điểm cần chú ý:

+ Môi trường học tập phải đảm bảo không ảnh hưởng đến sức khoẻ HS (không nóng, rét, gió mạnh…) và n nếp học tập chung của trường.

+ Những tác động của môi trường tới thời điểm diễn ra tiết học làm ảnh hưởng khả năng sử dụng các PPDH (sương mù, mưa, nắng…).

+ GV cần tìm hiểu kĩ hiện trường tiết học, chuẩn bị tốt giáo án phù hợp với

dạy học ngoài lớp.

+ Thời gian tiết học có hạn (không quá 40 phút), do vậy việc tổ chức dạy

học ngoài lớp ở các địa điểm gần trường là tốt nhất.

4. Biện pháp 4: Sử dụng hiệu quả đồ dùng dạy học.

4.1. Tự làm và sưu tầm ĐDDH:

4.1.1. Những ĐDDH cần sưu tầm:

- Tranh ảnh, băng hình: Nguồn tranh ảnh, băng hình sưu tầm cho dạy học rất phong phú có thể khai thác từ các phương tiện thông tin đại chúng: sách, báo, lịch treo tường, truyn hình, mạng internet...

- Các mô hình, mẫu vật, dụng cụ thí nghiệm đơn giản: Các phương tiện này

có thể khai thác trực tiếp từ thiên thiên, xã hội (các mô hình tự chế tạo, các loại lá cây, hoa, đất, đá, sản phẩm của nông nghiệp, công nghiệp,...)

4.1.2. Một số ĐDDH GV có thể tự làm:

a.Chuẩn bị dụng cụ, nguyên vật liệu, hóa chất:

Dao kéo, màu vẽ, bút vẽ, thước đo, cốc đo thể tích, các mảnh sắt, tôn, mảnh gỗ,các tấm nhựa, vỏ chai, dây điện, dây buộc, bìa, giấy trắng, giấy màu, bóng điện, một số động cơ điện (đinamô xe đạp, mô tơ điện trong các đồ chơi hỏng...)

b. Gợi ý tự làm một số thiết bị dạy học:

* Mẫu vật: Mẫu vật thường sử dụng trong dạy học chủ đ v con người và sức khỏe, động vật, thực vật là: các loại mẫu vật ngâm, mẫu vật ép, mẫu vật khô. Mẫu vật tự nhiên: các mẫu vật v đá, kim loại, sành sứ...thường dược sử dụng trong dạy học v Khoa học, Lịch sử và Địa lí.

* Sơ đồ, tranh, ảnh tự tạo: Sơ đồ: có các loại sơ đồ phản ánh không gian ở một khu vực cụ thể không lớn (thường dùng trong dạy học Lịch sử) và sơ đồ v mối quan hệ nhằm khái quát hóa kiến thức (dùng ở nhiu môn học). Tranh, ảnh tự tạo: tự vẽ một số bức tranh đơn giản và chụp một số bức ảnh phục vụ cho các bài dạy. Các bức tranh, ảnh có thể đưa vào máy tính và in các kích cỡ khác nhau.

* Làm các thiết bị thí nghiệm đơn giản: Nhiu thí nghiệm đơn giản GV có thể tự làm: thí nghiệm chứng minh không khí nóng bốc lên cao, cây hút hơi nước và thoát hơi nước, nước không có hình dạng nhất định,.....

* Các phiếu học tập, bảng tổng kết, lược đồ, bản đồ, sơ đồ trống...

Trong các ĐDDH này, các phiếu học tập, phiếu giao việc cho các bài học là cần thiết nhất. Các loại phiếu này tạo điu kiện cho GV có thể áp dụng các PPDH tích cực, phù hợp với đối tượng HS.

* Bộ đồ ghép hình tự tạo (ghép một số mô hình đơn giản bằng mút, xốp), đồ chơi cá nhân cho trẻ em (chong chóng, tàu ngầm...)

4.2. Sử dụng các ĐDDH:

4.2.1. Các nguyên tắc sử dụng ĐDDH: Sử dụng đúng mục đích, đúng lúc, đúng chỗ. Kết hợp sử dụng thiết bị dạy học đã được trang bị với việc tận dụng khai thác, sử dụng cơ sở vật chất kĩ thuật ngoài xã hội.

4.2.2. Sử dụng dạy học theo các nhóm ĐDDH:

a. Sử dụng tranh, ảnh:

- Ưu điểm: Các đối tượng thể hiện trên tranh đã được lựa chọn, khái quát hoá nhằm thể hiện rõ những đặc điểm chính v bên ngoài và cả các đặc điểm bên trong của đối tượng. Qua bức tranh người ta có thể phản ánh được cả các sự vật, hiện tượng cụ thể và sự vật, hiện tượng trừu tượng với kích thước khác nhau. Hình ảnh mà ảnh thu được v sự vật, hiện tượng là hình ảnh thật của chúng ngoài thực địa. Các bức ảnh thường có tính nghệ thuật, tính trực quan rất cao dễ thu hút sự chú ý, hứng thú của HS trong học tập.

- Hạn chế: Các loại ảnh giáo khoa phần lớn phản ánh tương đối tốt các biểu tượng, những đặc điểm bên ngoài của các đối tượng cụ thể. Những đặc , bên trong, bản chất của các sự vật, hiện tượng thường ít phản ánh được. Tính khái quát của ảnh thường không cao. Trong một bức ảnh, ngoài đối tượng chính cần thể hiện, còn có các chi tiết phụ ít liên quan đến bài học dễ làm phân tán sự quan sát của HS vào đối tượng chính.

- Các bước sử dụng:

+ Giảng bài mới.

+ Bước củng cố kiểm tra bài cũ và hướng dẫn HS học bài ở nhà.

b. Sử dụng các mô hình giáo khoa và mẫu vật:

* Sử dụng bản đồ, sơ đồ: Thường theo các bước:

- Bước 1: HS tìm hiểu chủ đ của bản đồ, sơ đồ, các đối tượng chính.

- Bước 2: HS làm việc với bản đồ, sơ đồ theo nhiệm mà GV đặt ra.

- Bước 3: HS trình bày kết quả làm việc với bản đồ theo lớp, nhóm, GV hướng dẫn HS nhận xét, đánh giá lẫn nhau và rút ra kết luận.

* Sử dụng các dụng cụ thí nghiệm:

- Các dụng cụ thí nghiệm được sử dụng trong một số bài học của môn TN-XH, môn Khoa học, môn Lịch sử và Địa lí. Ưu điểm nổi bật của các phương tiện này là giúp HS tìm hiểu được diễn biến của một số sự vật, hiện tượng thật có trong môi trường để tìm ra kiến thức.

- Khi sử dụng dụng cụ thí nghiệm, GV thực hiện qua các bước:

+ Bước 1: Giới thiệu v dụng cụ thí nghiệm và những yêu cầu sử dụng an toàn, hiệu quả.

+ Bước 2: Nêu mục đích tiến hành thí nghiệm.

+ Bước 3: Cho HS tiến hành thí nghiệm hoặc GV làm mẫu thí nghiệm (tuỳ theo yêu cầu, mục đích và điu kiện tiến hành thí nghiệm).

+ Bước 4: HS báo cáo kết quả thí nghiệm hoặc quan sát nhận xét thí nghiệm, GV hướng dẫn HS nhận xét, đánh giá.

* Sử dụng các dụng cụ quan trắc, đo vẽ, đo tính trực tiếp:

Các dụng cụ được sử dụng trong dạy học TH - XH là: ống nhòm, kính hiển vi, kính lúp, địa bàn, nhiệt kế. Để sử dụng các phương tiện này GV cần hướng dẫn cho HS qua các bước: Giới thiệu các bộ phận chính và tác dụng của chúng, cách sử dụng và bảo quản an toàn, cách thu thập thông tin, xử lí thông tin thu được.

5. Biện pháp 5: Kiểm tra, đánh giá theo hướng đổi mới.

5.1. Mục đích, nội dung và ý nghĩa của kiểm tra, đánh giá trong dạy học môn TNXH:

5.1.1. Mục đích, nội dung đánh giá: Đánh giá mức độ đạt được các mục tiêu dạy học môn TN-XH v kiến thức, kĩ năng và thái độ của HS. Mục đích của đánh giá là nhằm uốn nắn những sai sót v kiến thức, kĩ năng, phát hiện những khó khăn của HS trong quá trình học tập.

- V kiến thức: đánh giá khả năng mô tả, nhận biết, nhớ lại, tìm tòi, phát hiện kiến thức của môn học (Con người và sức khoẻ, Tự nhiên, Xã hội, Khoa học,

Lịch sử và Địa lí ).

- V kĩ năng:

+ Đánh giá các thao tác thực hành tự chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ của bản thân HS, ứng xử hợp lí trong đời sống để phòng chống một số bệnh tật và tai nạn.

+ Đánh giá các kĩ năng học tập: quan sát, nhận xét, nêu thắc mắc, đặt câu hỏi, làm thí nghiệm, đọc tranh, ảnh, bản đồ…diễn đạt những hiểu biết v các sự vật hiện tượng đơn giản trong tự nhiên và xã hội.

- V thái độ:

+ Đánh giá ý thức thực hiện quy tắc giữ vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và cộng đồng; tình cảm (yêu, tôn trọng, bảo vệ) với thiên nhiên, gia đình, trường học, quê hương.

+ Đánh giá sự quan tâm, ham học hỏi hiểu biết v môn học.

5.1.2. Ý nghĩa của đánh giá trong dạy học nói chung và dạy môn Tự nhiên và Xã hội nói riêng:

- Đối với HS : Đánh giá có hệ thống, thường xuyên, cung cấp kịp thời những thông tin “liên hệ ngược” giúp người học tự điu chỉnh hoạt động học.

- Đối với GV: Cung cấp cho GV những thông tin, giúp người dạy điu chỉnh hoạt động dạy:

+ Thông tin v năng lực trình độ của mỗi HS trong lớp mình phụ trách có biện pháp giúp đỡ riêng thích hợp,

+ Thông tin v những HS có tiến bộ rõ rệt hay thấp kém đột ngột để động viên giúp đỡ kịp thời.

+ Tạo cơ hội cho GV xem xét hiệu quả những cải tiến nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học mà mình đang theo đuổi.

5.2. Đánh giá môn TNXH ở các lớp 1, 2, 3 các môn Khoa học, Lịch sử và Địa lí ở các lớp 4, 5:

5.2.1. Đánh giá thường xuyên:

a. Tham gia đánh giá thường xuyên gồm: GV, HS (tự đánh giá và nhận xét, góp ý bạn qua hoạt động của nhóm, lớp)

b. GV đánh giá:

b.1. Trong quá trình dạy học, căn cứ vào đặc điểm và mục tiêu của bài học, của mỗi hoạt động mà HS phải thực hiện trong bài học, GV tiến hành một số việc như sau:

- Quan sát, theo dõi, trao đổi, kiểm tra quá trình và từng kết quả thực hiện nhiệm vụ của HS, nhóm học sinh theo tiến trình dạy học.

- Nhận xét bằng lời nói trực tiếp với HS hoặc viết nhận xét vào phiếu, vở của HS về những kết quả đã làm được hoặc chưa làm được; mức độ hiểu biết và năng lực vận dụng kiến thức; mức độ thành thạo các thao tác, kĩ năng cần thiết, phù hợp với yêu cầu của bài học, hoạt động của HS.

- Quan tâm tiến độ hoàn thành từng nhiệm vụ của HS; áp dụng biện pháp cụ thể để kịp thời giúp đỡ HS vượt qua khó khăn. Do năng lực của HS không đồng đều nên có thể chấp nhận sự khác nhau về thời gian, mức độ hoàn thành nhiệm vụ;

b.2. Hàng tuần, GV lưu ý đến những HS có nhiệm vụ chưa hoàn thành; giúp đỡ kịp thời để HS biết cách hoàn thành;

b.3. Hàng tháng, GV theo dõi về mức độ hoàn thành nội dung học tập từng môn học, hoạt động giáo dục khác; dự kiến và áp dụng biện pháp cụ thể, riêng biệt giúp đỡ kịp thời đối với những HS chưa hoàn thành nội dung học tập môn học, hoạt động giáo dục khác trong tháng;

b.4. Khi nhận xét, GV cần đặc biệt quan tâm động viên, khích lệ, biểu dương, khen ngợi kịp thời đối với từng thành tích, tiến bộ giúp HS tự tin vươn lên.

b.5. Không dùng điểm số để đánh giá thường xuyên.

c. HS tự đánh giá và tham gia nhận xét, góp ý bạn, nhóm bạn:

c.1. HS tự đánh giá ngay trong quá trình hoặc sau khi thực hiện từng nhiệm vụ học tập, hoạt động giáo dục khác, báo cáo kết quả với GV;

c.2. HS tham gia nhận xét, góp ý bạn, nhóm bạn ngay trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập môn học, hoạt động giáo dục; thảo luận, hướng dẫn, giúp đỡ bạn hoàn thành nhiệm vụ.

2.2. Đánh giá định kì các môn Khoa học, Lịch sử và Địa lí ở các lớp 4, 5

Việc đánh giá định kì kết quả học tập, mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng theo chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học của các môn Khoa học, Lịch sử và Địa lí ở các lớp 4, 5 được tiến hành vào cuối học kì I và cuối năm học bằng bài kiểm tra định kì…

Bài kiểm tra định kì được GV sửa lỗi, nhận xét những ưu điểm và góp ý những hạn chế, cho điểm theo thang thang điểm 10 (mười), không cho điểm 0 (không) và điểm thập phân.”

- HS không phải học thuộc lòng các câu chữ trong SGK hay vở ghi bài mà

cần trình bày các sự kiện, hiện tượng nhân vật lịch sử, địa lí bằng chính ngôn ngữ của mình một cách chính xác và sinh động dưới nhiu hình thức: nói, viết, vẽ…

- Bài làm của HS cần phân tích, tổng hợp, khái quát… nhưng chỉ ở mức độ đơn giản. Các bộ đ kiểm tra nên kết hợp các dạng bài tập (trắc nghiệm chủ quan và trắc nghiệm khách)

3.2. Nội dung đánh giá:

3.2.1. Đánh giá v kiến thức:

a) Mức 1-Biết: (mô tả, liệt kê, xác định, ghi nhớ, kể lại…): Đây là mức độ nhận thức được chú ý đánh giá nhiu nhất phù hợp với môn học và trình độ nhận thức của HS tiểu học.

b) Mức 2-Hiểu: HS so sánh được những đặc điểm giống nhau, khác nhau và giải thích nguyên nhân giống nhau và khác nhau đó. Các yêu cầu đánh giá chỉ dừng lại chủ yếu ở mức độ so sánh còn giải thích nguyên nhân được sử dụng ở mức độ đơn giản, liên quan đến những kiến thức thực tế mà qua bài học HS có thể giải thích được.

c) Mức 3, 4 - Vận dụng ở mức độ đơn giản( Hoặc ở mức độ cao hơn): sử dụng kiến thức, kĩ năng để giải quyết những tình huống mới. Nội dung đánh giá này thường được kết hợp với việc đánh giá kĩ năng, một nội dung rất được quan tâm trong dạy học TN-XH.

3.2.2. Đánh giá năng lực:

Các kĩ năng được đánh giá chủ yếu là kĩ năng quan sát, ứng xử, diễn đạt, nêu thắc mắc, đặt câu hỏi trình bày bằng lời nói, hình vẽ, sơ đồ, phân tích, so sánh đánh giá…phù hợp với môn học. Một số kĩ năng cần chú ý:

- Kĩ năng vệ sinh cơ thể, dùng thuốc an toàn, tránh bệnh tật, tránh bị xâm hại

- Kĩ năng sử dụng an toàn các vật dụng thường ngày.

- Kĩ năng bảo vệ môi trường sống ở gia đình , nhà trường và cộng đồng.

- Kĩ năng kể chuyện; học bài bằng lược đồ…..

3.2.3. Đánh giá phẩm chất:

Trong một bài học không thể đánh giá đầy đủ thái độ, phẩm chất của HS. Việc đánh giá thái độ, phẩm chất cần tiến hành song song với đánh giá kiến thức và năng lực. Mức độ vận dụng kiến thức, rèn luyện các năng lực sẽ được xem xét để đánh giá thái độ. Ngoài ra việc đánh giá phẩm chất trong dạy học các môn Khoa học, Lịch sử - Địa lí kết hợp với đánh giá đạo đức v: ý thức tôn trọng, cư xử đúng mực với bạn bè, thầy, cô ở trường, người thân trong gia đình, người lớn tuổi,ý thức tôn trọng, bảo vệ các công trình văn hoá, lịch sử, thiên thiên, môi trường sống.

3.3. Khả năng áp dụng của giải pháp:

Đề tài đã được áp dụng vào việc chỉ đạo dạy học các môn Tự nhiên và Xã hội theo phương pháp dạy học tích cực của trường Tiểu học Đông Minh trong quá trình giảng dạy. Qua việc triển khai áp dụng đê tài đã góp phần đổi mới và có hiệu quả về công tác chuyên môn trường. Đội ngũ giáo viên nhận thức sâu sắc hơn về công tác giảng dạy. Nâng cao dần về chất lượng dạy học, chất lượng đánh giá học sinh, việc điều chỉnh phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học sinh.

  1. khi rút ra những biện pháp trong việc tổ chức chỉ đạo công tác dạy học các môn Tự nhiên và Xã hội theo phương pháp dạy học tích cực và áp dụng vào thực tiễn của nhà trường tôi nhận thấy mọi cán bộ quản lý đều có thể áp dụng kinh nghiệm này vào công tác tổ chức chỉ đạo của mình nhằm nâng cao chất lượng giáo dục của các nhà trường. Việc áp dụng kinh nghiệm không khó, có điều yêu cầu người cán bộ quản lý cần có lòng kiên trì, tâm huyết với công việc khi tổ chức thực hiện. Tôi tin tưởng rằng kinh nghiệm của mình có thể góp một phần nhỏ bé vào việc nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường nói chung, việc chỉ đạo dạy học các môn TN - XH theo phương pháp dạy học tích cực nói riêng cho giáo viên. Kinh nghiệm này cũng có khả năng áp dụng cho các đơn vị trường tiểu học ở các vùng miền khác nhau đều mang lại hiệu quả. Tuy nhiên nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan ở từng địa phương mà hiệu quả đạt được cao hoặc thấp. 3.4. Hiệu quả, lợi ích thu được do áp dụng giải pháp:

Qua thời gian đầu tư nghiên cứu và áp dụng, các biện pháp trong Sáng kiến kinh nghiệm đã có tác dụng tích cực và hiệu quả đối với việc nâng cao chất lư­ợng giảng dạy:

* Về GV: Nắm vững kiến thức của bài học, nhận thức rõ tầm quan trọng của việc dạy học các môn học về TN - XH theo PPDH tích cực là cần thiết, chủ động, tự tin, thể hiện được dạy học theo PPDH tích cực. GV bao quát được HS trong lớp, theo dõi, hướng dẫn, giúp đỡ kịp thời đến từng đối tượng HS. Hoạt động giữa thày và trò nhịp nhàng, tự nhiên, kích thích được ý thức tự giác, chủ động của HS. GV giải quyết các tình huống nảy sinh trong quá trình dạy học một cách chủ động, sáng tạo, gây hứng thú cho HS.

* Về HS: Hình thành và phát triển cho HS các kỹ năng như:

- Biết quan sát và làm một số thí nghiệm thực hành khoa học đơn giản và gần gũi với đời sống hàng ngày.

- Biết phân tích, so sánh, đánh giá một số mối quan hệ đơn giản, những dấu hiệu chung và riêng của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội.

- Biết giữ vệ sinh cá nhân, vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh môi trường, biết phòng tránh một số bệnh tật và tai nạn.

- Biết vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống hàng ngày.

- HS tích cực, tự giác, chủ động trong việc tìm ra kiến thức, kết luận của bài học, tiết học diễn ra nhẹ nhàng, tự nhiên và hiệu quả.

* Kết quả kiểm tra sau mỗi tiết dạy thực nghiệm:

Để khẳng định hiệu quả của việc chỉ đạo tổ chức dạy học theo PPDH tích cực, tôi đã triển khai cho giáo viên trong trường tiến hành dạy chuyên đề trường và Cụm trường để cùng nhau thảo luận góp ý và thống nhất bài dạy.

Khối 1: Bài Cây rau - SGK TN-XH lớp 1-trang 46

(Người dạy: Đ/c Ngô Thị Nghĩa - Thời gian dạy: 19/10/2016)

  1. 4: Bài Đồng bằng Nam Bộ-SGK Lịch sử và Địa lí lớp 4-trang 116.

(Người dạy: Đ/c Nguyễn Thị Duân - Thời gian dạy: 24/02/2016 cuối năm học trước)

  1. 5: Bài Tre, mây, song -SGK Khoa học lớp 5 -trang 46.

(Người dạy: Đ/c Trần Thị Ngọc - Thời gian dạy: 30/11/2016)

Sau cuối mỗi tiết dạy thực nghiệm ở mỗi lớp, tôi đều tiến hành khảo sát HS theo tiêu chí sau:

- Lớp 1:

Mức 1: HS không chỉ đúng các bộ phận (rễ, thân, cành, lá, hoa,...) của cây rau; kể được một số lợi ích của việc ăn rau.

Mức 2: HS chỉ đúng 1-2 các bộ phận (rễ, thân, cành, lá, hoa,...) của cây rau; kể được lợi ích của việc ăn rau.

Mức 3: HS chỉ đúng các bộ phận của cây rau; kể được lợi ích của việc ăn rau.

Sau khi khảo sát tôi nhận thấy HS nắm được yêu cầu cơ bản và có kĩ năng diễn đạt trôi chảy, biết quan sát ĐDT, chỉ ra các bộ phận của cây rau đúng kiến thức. HS tích cực, tự giác, chủ động trong việc tìm ra kiến thức, kết luận của bài học. Tiết học diễn ra nhẹ nhàng, tự nhiên và hiệu quả.

- Lớp 4:

Mức 1: HS không chỉ được vị trí đồng bằng Nam Bộ trên lược đồ, bản đồ; nêu được một vài nét về đặc điểm tự nhiên (lịch sử hình thành, về đất, song ngòi, kênh rạch) của đồng bằng Nam Bộ.

Mức 2: HS chỉ được vị trí đồng bằng Nam Bộ trên lược đồ, bản đồ; nêu được một và nét về đặc điểm tự nhiên (lịch sử hình thành, về đất, sông ngòi, kênh rạch) của đồng bằng Nam Bộ.

Mức 3: HS chỉ được vị trí đồng bằng Nam Bộ trên lược đồ, bản đồ; nêu được những đặc điểm tiêu biểu tự nhiên (lịch sử hình thành, về đất, sông ngòi, kênh rạch) của đồng bằng Nam Bộ.

- Lớp 5:

Mức 1: HS không nhận biết được một số đặc điểm của tre, mây, song. Kể tên được một số đồ dùng được làm từ tre, mây, song.

Mức 2: HS nhận biết được một số đặc điểm, công dụng của tre, mây, song. Kể tên được một số đồ dùng được làm từ tre, mây, song.

Mức 3: HS nhận biết được một số đặc điểm, công dụng của tre, mây, song. Kể tên được một số đồ dùng được làm từ tre, mây, song. Biết bảo quản một số đồ dùng được làm từ tre, mây, song.

* Bảng khảo sát sau mỗi tiết dạy thực nghiệm:

 

 

Lớp

Giáo viên dạy

Bài dạy

Ngày dạy

Kết quả

Mức 1

Mức 2

Mức 3,4

SL

%

SL

%

SL

%

4E

Nguyễn Thị Duân

Đồng bằng Nam Bộ

24/02/16

0

 

8

28,5

20

71,5

1B

Ngô Thị Nghĩa

Cây rau

19/10/16

0

 

9

30,0

21

70,0

5D

Trần Thị Ngọc

Tre,song,mây

30/11/16

0

 

8

24,4

25

75,6

* Kết quả kiểm tra cuối năm.

+ Môn TN - XH lớp 1,2,3

 

TT

Khối lớp

Học sinh

Hoàn thành tốt

Hoàn thành

Chưa hoàn thành

SL

%

SL

%

SL

%

1

1

121

63

52,0

58

48,0

 

 

2

2

127

72

56,7

55

43,3

 

 

3

3

120

75

63,0

45

37,0

 

 

+ Môn Khoa học ; Lịch sử - Địa lí lớp 4,5

 

TT

Khối lớp

Học sinh

Môn

Điểm 9-10

Điểm 7- 8

Điểm 5- 6

Điểm 1- 4

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

1

4

112

Khoa học

81

72,3

27

24,1

4

3,6

 

 

LSử- ĐLí

92

82,1

13

11,6

7

6,3

 

 

2

5

145

Khoa học

118

81,4

20

13,8

7

4,8

 

 

LSử -ĐLí

128

88,3

17

11,7

 

 

 

 

Với kết quả trên, một lần nữa khẳng định ưu thế của dạy học theo PPDH tích cực: GV làm việc ít hơn, HS chủ động hơn trong quá trình tìm tòi, chiếm lĩnh tri thức, giờ học diễn ra sôi nổi hơn, nhẹ nhàng hơn, tự nhiên hơn mà HS được khắc sâu kiến thức; thực hành, luyện tập là cơ bản; kích thích sự say mê học tập ở các em. Số học sinh nhận thức ở mức 1 giảm, nhận thức ở mức độ 2, 3 và 4 tăng.

3.5. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:

Để không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục cần có sự quan tâm hỗ trợ đúng mức của toàn xã hội đối với các nhà trường cùng với sự cố gắng chung của tập thể cán bộ giáo viên trong nhà trường, trong đó vai trò tổ chức chỉ đạo của người hiệu trưởng và Ban giám hiệu là một yếu tố quan trọng. Để người cán bộ quản lý có khả năng áp dụng thành công kinh nghiệm nêu trên vào công tác quản lý điều hành công việc của mình, tôi có một số điều kiện như sau:

- Đổi mới phương pháp dạy học (trong đó có dạy học theo PPDH tích cực)

là một quá trình lâu dài, một công việc khó khăn, phức tạp vì phải thay đổi nhận thức và thói quen đã thành đường mòn trong CBGV. Cần phải có kế hoạch thực hiện từng bước, phân công công việc rõ ràng cho từng thành viên đảm trách những nhiệm vụ cụ thể.

- Đổi mới PPDH lại càng khó khăn hơn vì nó bao gồm nhiều phân môn mỗi phân môn lại có những đặc trưng riêng, phương pháp riêng. Vì vậy không thể tiến hành đổi mới PPDH chung chung các môn học về TN và XH mà phải tiến hành đổi mới từng phân môn. Có như vậy, việc dạy học theo hướng lấy HS làm trung tâm mới đạt hiệu quả như mong muốn góp phần nâng cao chất lượng dạy học.

- Đổi mới PPDH trên cơ sở kế thừa và phát huy mặt tích cực của PPDH truyền thống, đồng thời tìm cách phối hợp hợp lí giữa cái cũ và cái mới để đáp ứng nhu cầu đổi mới của dạy học.

- Đổi mới PPDH không thể tách rời với việc đổi mới trong kiểm tra, đánh giá, tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và cần có kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, GV. Tranh thủ sự đóng góp của Hội phụ huynh HS, các tổ chức, cá nhân tăng thêm cơ sở vật chất cho nhà trường, tăng thêm trang thiết bị dạy học.

- Đối với giáo viên trực tiếp đứng lớp: Cần coi việc “ đổi mới phương pháp giảng dạy” là một công việc quan trọng không thể thiếu của người giáo viên...

4. Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền

Dạy học theo PPDH tích cực là một vấn đề đang được đội ngũ những người làm công tác giáo dục rất quan tâm. Không những thế nó còn thu hút được sự quan tâm và đầu tư thích đáng của toàn xã hội. Chính vì vậy, một lần nữa, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến và giúp đỡ của Hội đồng khoa học các cấp và các bạn đồng nghiệp để Sáng kiến được hoàn thiện và thực tiễn hơn.

Tôi xin cam đoan báo cáo sáng kiến của tôi không sao chép của bất cứ ai và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Đông Minh, ngày 22 tháng 5 năm 2017

CƠ QUAN ĐƠN VỊ

ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

(xác nhận)

(Ký tên, đóng dấu)

 

TÁC GIẢ SÁNG KIẾN

(Ký và ghi rõ họ tên)

 

 

Đinh Văn Thử

 

 

Bài viết liên quan